Thomas Eliot với những đóng góp xuất sắc cho nền thơ ca hiện đại

0
73

Thomas Eliot (26/09/1888 – 04/01/1965), là trong một những nhà thơ cách tân có ảnh hưởng lớn nhất trong nền văn học Anh – Mỹ với những đóng góp xuất sắc cho nền thơ ca hiện đại. Là nhà thơ, nhà viết kịch, nhà phê bình văn học, T. Eliot thuộc số những người đầu tiên nhận ra nguy cơ “đại chúng hoá” văn hóa – nghệ thuật, phản ánh tình trạng bế tắc, hoang mang, trống rỗng sau chiến tranh và sự khô cằn của nền văn minh hiện đại, đồng thời nói lên niềm tin trong cuộc đấu tranh chống lại những giá trị giả. Ông được giải Nobel Văn học năm 1948.

Thomas Eliot
Thomas Eliot. Ảnh: goodreads.com

Tiểu sử

Xuất thân trong một gia đình đại tư bản, Thomas Stearns Eliot được giáo dục theo tinh thần Thanh giáo khắt khe. Bắt đầu từ năm 1906 ông học triết, tâm lí và Đông Phương học ở Đại học Harward, sau đó ở Paris. Ông đã chuẩn bị luận án tiến sĩ nhưng không bảo vệ mà chuyển hướng sang hoạt động văn chương. Năm 1917, T. Eliot làm trợ lí giám đốc một tạp chí thuộc “phái hình tượng” – tờ Người vị kỉ (The Egoist). Tập thơ đầu tiên của ông là Prufrock và những bài thơ khác (1917) chịu ảnh hưởng rõ rệt của chủ nghĩa tượng trưng. T. Eliot viết phê bình văn học từ quan điểm thuần mĩ học, gạt bỏ xuống hàng thứ yếu những khía cạnh thuộc về tiểu sử của tác giả.

Eliot trở nên nổi tiếng như một nhà thơ ngay sau khi trường ca Đất hoang (1922) ra đời với sự giúp đỡ to lớn của E. Pound, trong đó ông đưa ra chẩn đoán trạng thái tinh thần của Châu Âu sau Thế chiến I, cho thấy sự trống rỗng tâm hồn của cả một thế hệ. Hình thức ngắt đoạn của trường ca này, lần đầu xuất hiện trên tạp chí The Criterion do T. Eliot sáng lập, càng làm tăng thêm ấn tượng về sự mất định hướng của con người.

Tại Anh, ông làm việc cho nhà băng Lloyd, rồi làm Giám đốc Nhà xuất bản Phaber & Gweger (sau đổi thành Phaber & Phaber). Năm 1927, T. Eliot nhập quốc tịch Anh và cải sang Anh giáo. Một năm sau ông viết tiểu luận Lanczenot Endrus đánh dấu bước ngoặt mang tính tôn giáo. Cùng với tập thơ xuất bản năm 1930 là Ngày đầu của tuần chay(1), tư tưởng tôn giáo bắt đầu hiện diện thường xuyên trong tất cả các tác phẩm của ông.

Vở kịch Vụ giết người trong nhà thờ (1935) đánh dấu bước khởi đầu công việc thực sự của ông trong lĩnh vực sân khấu. Những năm 1949-1959, ông cho ra đời một loạt các vở kịch.

Năm 1948, một năm sau cái chết của vợ, T. Eliot nhận Giải Nobel Văn học. Thời gian sau đó ông chủ yếu viết tiểu luận và kịch, trong đó có ba vở ông gọi là hài kịch. Năm 1957, ông cưới Valeri Flecher. Năm 1964, ông được nước Mỹ tặng Huân chương Tự do. T. Eliot có bằng danh dự của 16 trường đại học Mỹ, Anh và Châu Âu, được nhận nhiều giải thưởng cao quý của nhiều quốc gia… Ông mất tại London ở tuổi 76.

* Tác phẩm:

– Những bản tình ca của J. Alfed Prufoc (The Love Song of J. Alfed Prufoc, 1911), thơ.

– Prufrock và những bài thơ khác (Prufrock and Other Poems, 1917), thơ.

– Prufrock và những quan sát khác (Prufrock and Other Observation, 1917), thơ.

– Suy ngẫm về thơ tự do (Reflexions on vers libre, 1917), tiểu luận.

– Thơ (Poems, 1920), thơ.

– Rừng thiêng (The Sacred Wood, 1920), phê bình.

– Đất hoang (The Waste Land, 1922), trường ca.

– Những kẻ rỗng tuếch (The Hollow Men, 1925), trường ca.

– Lanczenot Endrus (1928), tiểu luận.

– Ngày đầu của tuần chay (Ash Wednesday, 1930), thơ.

– Chức năng của thơ ca và chức năng của phê bình (The Use of Poetry and the Use of Criticism, 1933), tiểu luận.

– Đá tảng (The Rock, 1934), thơ.

– Vụ giết người trong nhà thờ (Murder in the Cathedral, 1935), kịch.

– Những tiểu luận cũ và mới (Essays Ancient and Modern, 1936), tiểu luận.

– Những chú mèo (Old Possum’s Book of Practical Cats, 1939), thơ.

– Đoàn tụ gia đình (The Family Reunion, 1939), thơ.

Bốn khúc tứ tấu (Four Quartets, 1943), trường ca.

– Bữa tiệc cocktail (The Cocktail Party, 1949-1950), kịch.

– Ghi chép hướng tới việc định nghĩa về văn hóa (Notestowards the Denfinition of the Culture, 1950), tiểu luận.

– Thơ và kịch (Poems and Plays, 1951), tiểu luận.

– Thư kí riêng (The Confidence clerk, 1954), kịch.

– Về thơ và các nhà thơ (On Poetry and Poets, 1957), tiểu luận.

Chính nhân khả kính (The Elder Statesman, 1959), kịch.

– Tuyển tập thơ (Collected Poems, 1963).

* Lời tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển(2):

Trong dòng nối tiếp đầy ấn tượng của những người đoạt Giải Nobel Văn học, T.S. Eliot nổi bật, không giống với những kiểu nhà văn cùng dành được sự tôn vinh này. Phần đông những nhà văn đó đại diện cho một nền văn chương tìm kiếm những sự tiếp xúc tự nhiên với cảm nhận của công chúng và để đạt được mục đích đó, nó tận dụng các phương tiện truyền thông đại chúng ít nhiều có trong tầm tay. Người được tặng giải năm nay đã tìm một lối đi riêng. Thành công của ông nổi bật ở chỗ, xuất phát từ một quan điểm độc đáo được chọn lọc cẩn thận, ông dần dần gây dựng một ảnh hưởng rất sâu rộng. Mới đầu, ông dường như chỉ nói với chính mình, hạn chế những tìm tòi đầu tiên trong một phạm vi nhỏ. Phạm vi này cứ mở rộng dần còn ông thì tỏ ra không cố ý như vậy. Cho nên, thơ và văn xuôi của Eliot có một âm điệu đặc biệt buộc chúng ta phải lưu tâm đến chính thời đại chúng ta. Thơ và văn ấy cũng có khả năng khía vào lương tâm thế hệ chúng ta những lát khía sắc lém.

Trong một bài tiểu luận của mình, chính Eliot đã đưa ra, như một giả định hoàn toàn khách quan nhưng không dứt khoát, điều mà các nhà thơ trong thời đại chúng ta phải tiếp cận nhưng tiếp cận thật khó khăn. “Thời đại chúng ta”, ông nói, “là cực kì phức tạp và đa dạng. Sự đa dạng và phức tạp ấy, vốn khơi dậy sự nhạy bén tinh tế, nhất định sẽ tạo ra những hệ quả phức tạp khác nhau. Nhà thơ phải mỗi ngày một trở nên bao quát, nhiều ẩn ý, ý vị và nhuần nhị, nhằm tăng cường hoặc khi cần thì phá vỡ, sức biểu đạt của ngôn ngữ”.

Trên cơ sở tuyên bố đó, chúng ta có thể kiểm tra kết quả và tìm hiểu tầm quan trọng những đóng góp của ông. Nỗ lực đã được đền đáp. Eliot bắt đầu nổi tiếng trước hết nhờ  lĩnh vực thơ ca. Tập Đất hoang ra mắt năm 1922 và về sau hình như “lạc vào nhiều nẻo đường khác nhau”, ấy là do ngôn ngữ tượng trưng phức tạp, nghệ thuật thể hiện kiểu tranh ghép mảnh, và cơ cấu rắc rối những ám chỉ uyên thâm. Cần nhắc lại rằng tác phẩm ấy xuất hiện cùng năm với một tác phẩm khác mà tính tinh luyện còn tác động mạnh mẽ hơn đến văn chương hiện đại, cuốn Ulysses được tranh luận nhiều, con đẻ của một người Ailen, James Joyce. Sự ra đời đồng thời đó không ngẫu nhiên, bởi lẽ các tác phẩm như vậy của những năm 1920 thường vẫn liên quan chặt chẽ với một tác phẩm khác cả về tinh thần lẫn cách thức xây dựng.

Đất hoang – một cái tên có thể giúp cho sự cảm nhận những bí mật của nó thông qua các mô hình ngôn ngữ. Rung cảm u buồn và ảm đạm được cố ý dùng để miêu tả sự khô cằn và tê liệt của văn minh hiện đại, qua một loạt chương khúc khi hiện thực khi hư ảo, mỗi chương một trọng tâm tư tưởng riêng, các trọng tâm này tác động đến nhau tạo ra một hiệu quả thật trọn vẹn. Toàn bộ tập thơ, nhiều bài chỉ có 436 dòng thơ, song hiện thời, nó hàm chứa nhiều hơn cả một pho truyện rậm dày rất nhiều trang. Cho đến nay, Đất hoang đã trải dài 1/4 thế kỷ, song nó vẫn chứng tỏ rằng tầm nhìn xa trông rộng đầy dự báo tai ương của nó vẫn giữ nguyên tính thời sự trong thời đại nguyên tử đang phủ bóng đen lên đời sống loài người.

Từ đó về sau, Eliot vẫn dồn hết tâm trí cho sáng tác với thơ ca, chuyển sang sáng tác những tác phẩm mà chủ đề chính được ông theo đuổi kiên trì là nỗi đau và cuộc tìm kiếm sự cứu rỗi linh hồn. Sự ghê rợn trống rỗng của con người hiện đại trong một thế giới bị dung tục hóa, thiếu vắng trật tự kỉ cương, ý nghĩa, hay cái đẹp, nổi bật lên với sự chân thật nhói lòng. Trong tác phẩm mới nhất của ông, Bốn khúc tứ tấu (1943), Eliot đạt đến một chất nhạc đầy suy tư của từ ngữ, với những điệp khúc gần như của nghi lễ và những biểu hiện tinh tế, chính xác của các trải nghiệm tinh thần của ông. Siêu cấu trúc tiên nghiệm nổi lên rõ ràng hơn bao giờ hết trong các khắc họa của ông về thế giới. Cùng thời gian ấy, một thông điệp lúc đầu có tính tích cực và dẫn dắt về sau thì đầy tính chiến đấu, quyết tâm cất lên trong các tác phẩm kịch của ông, đặc biệt trong vở bi kịch lịch sử hoành tráng về Thomas ở Canterbury, Vụ giết người trong nhà thờ (1935). Thông điệp ấy cũng vang lên trong vở Đoàn tụ gia đình (1939), một nỗ lực thử nghiệm táo bạo nhằm kết hợp những quan niệm rất khác nhau như tín điều của Thiên Chúa giáo về tội lỗi đầu tiên và các thần thoại Hi Lạp cổ về số phận, trong một môi trường hoàn toàn hiện đại với cảnh trí được đặt trong một ngôi nhà nông thôn ở miền Bắc nước Anh.

Phần thuần thơ trong tác phẩm của Eliot không lớn về số lượng, nhưng vì nó hiện rõ trên đường chân trời, nó như một ngọn núi đá trồi lên từ đại dương, tạo nên một cột mốc. Đôi khi, nó lại như đường viền tôn lên vẻ đẹp một thánh đường. Đó là một thứ thơ gây ấn tượng với dấu ấn của một tinh thần trách nhiệm triệt để và tự khép mình vào kỉ luật cực kì nghiêm khắc, một thứ thơ rời bỏ hẳn những sáo mòn mùi mẫn, hoàn toàn tập trung vào những gì là cốt lõi, trần trụi, đích thực và không tô vẽ, một thứ thơ thỉnh thoảng lại bừng sáng bởi một tia bất thần rọi tới từ vũ trụ bất tận của những khám phá và những điều kì diệu.

Với sự sáng suốt của mình, Eliot đã nêu lên những vấn đề phải giải quyết hay vượt qua, những trở ngại đồng thời cũng là những yếu tố kích thích. Hẳn là mâu thuẫn khi nói rằng nhà tiên phong đến cùng về hình thức này, người khởi xướng cả một cuộc cách mạng về lối viết trong thi ca hôm nay, đồng thời cũng là một nhà biện luận lạnh lùng, một nhà lí luận tinh tế và đúng đắn, người không bao giờ chấp nhận việc bảo vệ những ý nghĩ có sẵn và sự cần thiết của những chuẩn mực cho trước đối với cuộc sống chúng ta. Đầu những năm 40, ông trở thành một người ủng hộ hết lòng những nhà thơ thuộc giáo phái Anh trong tôn giáo và chủ nghĩa cổ điển trong văn học. Triết lí sống đó đã dẫn tới việc quay về dứt khoát với những lí tưởng do thời đại qui định, việc ông thực hiện những ý tưởng theo chủ nghĩa hiện đại của bản thân có thể va đập với lí thuyết quen thuộc đã thành truyền thống của ông. Song đây là một trường hợp hiếm gặp. Đúng hơn, với tư cách là một nhà thơ, ông đã làm việc liên tục và làm việc với những thành công đa dạng cho việc bắc một cây cầu qua cái vực thẳm ấy mà nhất định ông hoàn toàn nhận thức được, có lẽ với khá nhiều đau đớn, những tác phẩm thơ sớm nhất của ông, với hình thức thể hiện thật xộc xệch tưởng như sắp đổ sập và cố tình chọc tức người đọc, cuối cùng vẫn có thể được hiểu như một sự biểu lộ của một tâm hồn khát khao đạt tới những hiện thực cao hơn và trong sáng hơn, một tâm hồn trước hết phải tự giải thoát khỏi ghê tởm hận thù và hoài nghi yếm thế. Nói cách khác, cuộc nổi loạn của ông là cuộc nổi loạn của một nhà thơ Thiên Chúa giáo. Nó cũng có thể được nhìn nhận từ sự thật là trong tổng thể, Eliot nghiền ngẫm rất kĩ lưỡng, nhưng không phải để mở quá rộng quyền lực của thơ ca đối với tôn giáo. Nơi nào ông muốn chỉ ra cái mà thơ thực sự có thể thực hiện mĩ mãn cho đời sống nội tâm của chúng ta, ông đã làm điều đó thật thận trọng và dè dặt: “Nó (thơ) thỉnh thoảng có thể khiến chúng ta nhận biết rõ hơn một chút những tình cảm bí ẩn hơn và khó bề đặt tên, tạo nên nền tảng của cuộc sống chúng ta, những tình cảm mà ta hiếm khi thâm nhập dù chúng thường xuyên là những cuộc tẩu thoát của chúng ta ra khỏi chính mình”.

Cho nên nếu nói rằng quan điểm triết học của Eliot chỉ dựa vào truyền thống chứ không vào bất cứ cái gì, xin luôn luôn ghi nhớ rằng ông thường xuyên chỉ ra từ “truyền thống” bị lạm dụng hay dùng sai phổ biến ra sao trong các cuộc tranh luận hiện nay. Từ ấy, bản thân nó bao hàm ý nghĩa “chuyển động”, tuy đôi khi là sự “tĩnh tại”, đôi khi “lưu truyền liên tục” hay “bị đồng hoá”. Trong truyền thống thi ca, nguyên tắc đạo đức vốn luôn sống động cũng phổ biến (như trong nhiều truyền thống khác). Các công trình văn chương bất tử hiện tồn tại tạo nên một sự tiếp nối lí tưởng, nhưng truyền thống này được điều chỉnh đôi chút, mỗi khi một công trình mới được thêm vào. Các chiều kích và giá trị thay đổi không ngừng. Chính vì cái cũ “dẫn dắt” cái mới, cái mới đến lượt nó lại dẫn dắt cái cũ, và nhà thơ nhận thức được điều đó cũng phải nhận thức được qui mô các khó khăn và trách nhiệm của mình.

Hơn nữa, về hình thức, ông Eliot đang độ tuổi 60 cũng đã quay về Châu Âu, con người của các truyền thống văn hóa, con người cổ xưa, dạn dày sương gió và đáng kính. Sinh ra ở Hoa Kì, ông là hậu duệ của một gia đình theo Thanh giáo di cư sang đây từ cuối thế kỷ XVII. Những năm tuổi trẻ ở các trường Đại học Sorbonne, Marburg và Oxford đã chứng tỏ rằng thực chất ông cảm thấy mình ràng buộc máu mủ với môi trường lịch sử của lục địa già, và từ năm 1927, ông Eliot đã là một công dân của Vương quốc Anh.

Trong bài giới thiệu này, chúng tôi không thể đề cập nhiều hơn những khía cạnh hút hồn trực tiếp nhất trong tập hợp phức tạp các phẩm chất của Eliot trên tư cách một nhà văn. Một phẩm chất nổi trội là trí thông minh cao được đào luyện một cách khôn ngoan và bình thản, trí thông minh giúp nhà văn thành công trong việc huy động phục vụ cho mình cả óc tưởng tượng lẫn kiến thức thu nhận được, cả sự nhạy cảm lẫn sự phân tích tư tưởng. Khả năng của ông trong việc kích thích sự xem xét lại những vấn đề bức xúc trong dư luận giới trí thức và mĩ học cũng là phi thường, và dù sự đánh giá (về ông) có thể thay đổi nhiều đến đâu vẫn không sao phủ nhận được rằng trong thời đại ông, ông là một nhà đặt vấn đề kiệt xuất, với năng khiếu bậc thầy đối với việc tìm kiếm cách thức diễn đạt cự phách cả trong ngôn ngữ thơ ca lẫn trong việc bảo vệ ý tưởng trong thể loại tiểu luận.

Và không chỉ do tình cờ mà ông viết được một trong những nghiên cứu tinh tế nhất về con người và tác phẩm của Dante. Trong lối văn thống thiết đậm chất đắng cay về đạo đức, trong cách suy nghĩ siêu hình và khát vọng mãnh liệt của ông về một trật tự thế giới do tôn giáo gợi ý, một civitas dei, Eliot quả thực có một số điểm gặp gỡ với nhà thơ vĩ đại xứ Florence. Công trình nghiên cứu ấy đã góp phần to lớn cho thanh danh của ông. Ây là trong những hoàn cảnh luôn thay đổi của môi trường xã hội của ông, ông vẫn được suy tôn đúng đắn là một trong những người kế tục mới nhất của Dante. Trong thông điệp của ông, chúng ta nghe thấy những tiếng vang hào hùng vọng về từ những thời đại khác, nhưng thông điệp đó không vì thế mà kém chân thực, khi nó được truyền đến cho thời đại chúng ta và cho chúng ta đang sống trong thời đại này.

“Vì cống hiến nổi bật có tính tiên phong của ông cho thơ ca hôm nay”, thưa ông Eliot, theo văn bằng, giải thưởng được cân nhắc và quyết định chủ yếu qua việc xem xét những thành tựu xuất sắc của ông như một nhà tiên phong trong thi ca hiện đại. Ở  đây, tôi đã gắng trình bày thật vắn tắt một nghiên cứu tổng quát về một tác phẩm vô cùng  quan trọng của ông được rất nhiều độc giả nồng nhiệt ngưỡng mộ ở đất nước này.

Đúng hai mươi lăm năm trước, từng đứng ở chỗ ông đang đứng hôm nay một nhà thơ lừng danh khác viết bằng tiếng Anh, William Butler Yeats. Vinh quang ấy bây giờ chuyển đến ông như đến một lãnh tụ và một nhà vô địch của thời kì mới trong lịch sử lâu dài của thi ca hành tinh.

Với sự khen ngợi của Viện Hàn lâm Thụy Điển, xin ông đón nhận phần thưởng của mình từ tay Đức Vua kính mến.

Tân Đôn và Nguyễn Văn Quảng dịch từ bản tiếng Anh

 (Nguồn: http://nobelprize.org)
Culture Globe

* Diễn từ(3):

Khi nghĩ đến việc nên nói gì với quý vị trong buổi tối hôm nay, tôi chỉ muốn bày tỏ một cách thật giản dị lòng cảm kích tới Viện Hàn lâm Thụy Điển vì đã trao cho tôi niềm vinh dự lớn lao này. Nhưng làm việc này sao cho thích đáng cũng không hề đơn giản: công việc của tôi gắn liền với ngôn từ, vậy mà ngôn từ lại không tuân theo sự điều khiển của tôi. Nếu chỉ để nói rằng tôi nhận thức rõ mình đã được trao vinh dự quốc tế cao quý nhất mà một nhà văn có thể nhận được, tôi chỉ cần nói những điều mà ai cũng biết. Nếu tôi nói tôi không xứng đáng thì khác nào tỏ ý nghi ngờ sự sáng suốt của Viện; nếu ca ngợi Viện thì có thể hàm ý rằng tôi, với tư cách nhà phê bình văn học, đã đồng ý với việc quý vị công nhận tôi là một nhà thơ. Bởi vậy, tôi muốn hỏi liệu có phải là hiển nhiên khi nghe tin mình được trao giải, trong tôi xuất hiện tâm trạng phấn khích và kiêu hãnh thường tình mà bất cứ ai cũng trải qua trong một khoảnh khắc như vậy, vui bởi được ngợi ca tâng bốc, và bực tức vì nỗi phiền hà bỗng chốc trở thành một nhân vật tiếng tăm? Giá như giải thưởng Nobel đồng loại với bất kì một giải thưởng nào, chỉ có điều ở cấp cao hơn, tôi vẫn phải gắng công tìm những ngôn từ thích hợp để diễn tả lòng cảm kích. Nhưng vì nó khác với mọi loại giải thưởng khác, nên để diễn đạt cảm xúc của mình, người ta phải viện tới những phương tiện mà ngôn ngữ không đáp ứng được.

Vì thế, tôi phải tìm cách bày tỏ gián tiếp, bằng cách đưa ra những nhận định của bản thân về tầm quan trọng của Giải Nobel Văn học. Nếu giải thưởng chỉ là sự công nhận công lao hay thừa nhận thực tế rằng danh tiếng của tác giả đã vượt ra ngoài biên giới một quốc gia cũng như giới hạn về ngôn ngữ, thì ta có thể nói rằng chẳng mấy ai trong chúng ta, dù ở thời nào, đủ tiêu chuẩn để đạt được hơn kẻ khác. Nhưng tôi thấy giải thưởng Nobel còn chứa đựng một cái gì đó lớn hơn và khác hơn một sự công nhận như vậy. Đối với tôi, đó dường như là sự lựa chọn một cá nhân, từ năm này sang năm khác và từ quốc gia này sang quốc gia khác, theo một tiêu chí nào đó giống như một hành vi đặc ân, để hoàn thành một vai trò đặc biệt và để trở thành một biểu tượng đặc biệt. Một buổi lễ trang trọng được tổ chức, để rồi một người bỗng nhiên được phú cho một trọng trách mà trước đó anh ta chưa bao giờ đảm nhiệm. Vậy câu hỏi đặt ra không phải là anh ta có xứng đáng không, mà là liệu anh ta có thể đảm đương được trọng trách đó không: trọng trách đóng vai trò người đại diện, trong chừng mực một con người có thể có tầm quan trọng lớn hơn nhiều so với giá trị của những gì chính anh ta đã viết.

Thơ ca thường được xem là loại hình nghệ thuật mang tính cục bộ cao nhất. Bất cứ ai có khả năng nhìn và nghe đều có thể thưởng thức hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc. Nhưng ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ thơ ca, là một chuyện khác. Dường như thơ ca ngăn cách con người hơn là gắn kết họ với nhau.

Nhưng mặt khác, ta cần nhớ rằng trong khi ngôn ngữ là một rào cản, chính thơ ca cho ta một lí do để cố gắng vượt qua rào cản đó. Thưởng thức thơ ca của một ngôn ngữ khác cũng chính là thưởng thức thú vui được hiểu biết về dân tộc của ngôn ngữ đó, sự hiểu biết mà ta không thể có bằng cách nào khác. Ta có thể nghĩ về lịch sử của thơ ca Châu Âu, về ảnh hưởng to lớn mà thơ ca của một ngôn ngữ này tác động lên thơ ca của một ngôn ngữ khác. Ta phải nhớ rằng các nhà thơ chịu ảnh hưởng của những nhà thơ lớn không cùng ngôn ngữ nhiều hơn là ảnh hưởng của những nhà thơ cùng ngôn ngữ với họ. Ta có thể thấy thơ ca của bất kì nước nào, bất kì ngôn ngữ nào đều sẽ suy thoái và lụi tàn nếu không được thơ ca của các ngôn ngữ khác nuôi dưỡng. Khi một nhà thơ nói với dân tộc mình, tất cả giọng nói của các nhà thơ thuộc ngôn ngữ khác – những người đã gây ảnh hưởng đến anh – cũng cất lên tiếng nói. Và đồng thời, chính anh đang nói với những nhà thơ trẻ thuộc những ngôn ngữ khác, và các nhà thơ này sẽ chuyển tải một cái gì đó của cách nhìn cuộc sống, một cái gì đó của tinh thần dân tộc anh, vào cái nhìn và tinh thần của chính dân tộc họ. Một phần thông qua ảnh hưởng của anh đối với các nhà thơ khác, một phần thông qua các bản dịch, vốn cũng phải là một loại tái sáng tạo thơ của anh bởi các nhà thơ khác, một phần thông qua những độc giả nói cùng ngôn ngữ với anh nhưng chính bản thân họ không phải là người làm thơ, nhà thơ góp phần giúp các dân tộc hiểu biết nhau hơn.

Trong sáng tác của mỗi nhà thơ, chắc chắn sẽ có rất nhiều điều chỉ có thể lôi cuốn những người sống trên cùng một vùng đất, hay cùng nói chung ngôn ngữ với nhà thơ. Tuy nhiên, cụm từ “thơ ca Châu Âu”, thậm chí cả cụm từ “thơ ca toàn thế giới” chẳng phải không có ý nghĩa. Tôi nghĩ rằng trong thơ ca, những người ở những nước khác nhau với những ngôn ngữ khác nhau – dù hiển nhiên chỉ là một thiểu số nhỏ nhoi ở bất cứ nước nào – đều cần có một sự hiểu biết lẫn nhau, dù chỉ một phần nào đó, song vẫn hết sức cần thiết. Giải thưởng Nobel Văn học mà tôi nhận được với tư cách nhà thơ là một bằng chứng khẳng định giá trị siêu quốc gia của thơ ca. Để thừa nhận giá trị này, đôi khi cần phải lựa chọn một nhà thơ để trao giải: và giờ đây tôi đứng trước các quý vị, không phải vì công lao của cá nhân tôi mà như là biểu tượng của một thời về tầm quan trọng của thơ ca.

Tân Đôn dịch từ bản tiếng Anh
Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính

(Nguồn: http://nobelprize.org)

Ghi chú:

  • (1) Nguyên tác là Ash wednesday, nghĩa đen là Thứ Tư tro.
  • (2) Do Anders ửsterling, Thư kí thường trực Viện Hàn lâm Thụy Điển đọc.
  • (3) T. Eliot đọc trong tiệc chiêu đãi giải thưởng Nobel ngày 10/12/1948 tại Tòa Thị chính Stockholm.

Xem thêm:

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây